BỆNH SỎI MẬT

Nguyên nhân gây bệnh sỏi mật

Mật do gan tạo ra và được dự trữ trong túi mật. Những thành phần cơ bản trong mật là muối mật, bilirubin, và cholesterol. Sỏi mật được hình thành là do mất cân bằng các thành phần này. Cholesterol được giữ giới hạn bình thường là do nó hòa tan trong muối mật. Một sự gia tăng số lượng cholesterol trong mật làm quá khả năng hòa tan của muối mật sẽ dẫn tới hình thành sỏi cholesterol. Tương tự vậy, sự giảm số lượng muối mật cũng thúc đẩy việc hình thành sỏi cholesterol. Sự giảm co bóp và túi mật rỗng, thường gặp ở thai kỳ, là một yếu tố quan trọng khác để hình thành sỏi cholesterol.
Sỏi sắc tố mật thường liên quan tới tình trạng nhiễm trùng mạn tính ở đường mật. Điều này thường thấy nhất ở các quốc gia Châu Á, nơi mà tình trạng nhiễm ký sinh trùng đường mật thường gặp. Những bệnh nhân mắc bệnh về máu có thể gây ra phá hủy hồng cầu nhiều làm gia tăng số lượng bilirubin trong mật, do đó gây ra hình thành sỏi sắc tố mật.


Ai là người có nguy cơ bị sỏi mật?

  • Có rất nhiều yếu tố nguy cơ đã được xác định trong việc hình thành nên sỏi cholesterol. Trước tuổi thanh thiếu niên sỏi mật rất ít gặp, còn sau tuổi 40 tỉ lệ này gia tăng rõ rệt. Những yếu tố nguy cơ khác để hình thành nên sỏi mật bao gồm : nữ ,sanh đẻ nhiều, uống thuốc ngừa thai, chế độ ăn nhiều chất béo và ít chất sợi, béo bệu, sụt cân nhanh, một vài loại thuốc, bệnh đường ruột làm mất muối mật như là bệnh Crohn và do yếu tố di truyền nữa.

  • Nguy cơ sỏi cholesterol đặc biệt cao ở những phụ nữ sanh đẻ nhiều. Hormon estrogen của nữ làm gia tăng nồng độ cholesterol trong mật và giảm sự co bóp của túi mật. Tác dụng của estrogen cũng được chứng minh ở những người dùng thuốc ngừa thai và phụ nữ dùng liệu pháp estrogen thay thế thì nguy cơ sỏi mật gia tăng.

  • Vai trò của chế độ ăn trong việc hình thành nên sỏi mật thì không rõ ràng. Tuy nhiên,chế độ ăn có calorie cao, nhiều béo, ít sợi đã cho thấy có liên quan đến nguy cơ của sự hình thành nên sỏi cholesterol. Điều đáng chú ý là nồng độ cholesterol huyết thanh cao có thể không là nguy cơ cao của sỏi cholesterol nhưng trái lại nồng độ triglyceride cao lại có thể là yếu tố nguy cơ. Béo bệu thường kèm với sự gia tăng bài tiết cholesterol trong mật, vì vậy làm gia tăng nguy cơ bị sỏi cholesterol. Khi người béo bệu trải qua thời kỳ sụt cân nhanh chóng thì nguy cơ bị sỏi mật lại tăng hơn nữa.Điều này xảy ra là do hậu quả của sự gia tăng cholesterol và giảm muối mật ở những bệnh nhân có chương trình giảm cân nhanh.

  • Những bệnh có ảnh hưởng lên ruột có thể làm mất muối trong cơ thể và dẫn tới sự hình thành sỏi cholesterol. Đây là điều quan trọng cần để ý những bệnh nhân bị bệnh Crohn, một bệnh viêm ruột non, nguy cơ cao bị sỏi mật hơn.Những thuốc làm hạ thấp lipid trong cơ thể như là clofibrate có thể làm gia tăng cholesterol trong mật và dẫn tới làm gia tăng nguy cơ cao bị sỏi mật .

  • Yếu tố di truyền đóng vai trò khá quan trọng. Sỏi mật thường gặp ở nhiều thành viên trong gia đình. Một ví dụ khá rõ ràng cho vấn đề này là ở những người Pima Indian sống ở Tây Nam Mỹ, nơi bệnh sỏi mật ở phụ nữ trẻ có thể tới 80%.

  • Những yếu tố nguy cơ của sỏi sắc tố mật là vệ sinh ăn uống kém thường liên quan tới sự gia tăng sắc tố bilirubin trong mật. Điều này được thấy rõ ở những bệnh có sự phá hủy hồng cầu như bệnh hồng cầu hình liềm, sốt rét hoặc trên nền bệnh gan như xơ gan.


Triệu chứng của bệnh sỏi mật

  • Trong trường hợp điển hình đau đột ngột xuất hiện, thành cơn dữ dội, đau vùng hạ sườn phải lan lên vai phải hoặc sau lưng, đau làm người bệnh lăn lộn trên giường, cũng có thể đau làm người bệnh không dám thở mạnh. Trong trường hợp không điển hình, đau chỉ âm ỉ hoặc tức nặng ở hạ sườn phải, đau đôi khi ở vùng thượng vị và lan lên ngực.
  • Sốt: Là do nhiễm khuẩn đường mật, nếu không có nhiễm khuẩn thì không có sốt, có thể sốt cao, rét run nhưng cũng có khi sốt nhẹ, sốt thường đi kèm với đau, có khi sốt kéo dài.
  • Vàng da: Da và củng mạc mắt vàng là do tắc mật, xuất hiện khi sỏi ở ống mật chủ, ống gan hoặc trong gan tùy theo mức độ tắc mật mà vàng nhẹ hay vàng đậm. Trong trường hợp chỉ có sỏi túi mật đơn thuần thì không gây vàng da.
  • Khi khám bệnh: Gan to là triệu chứng thường gặp của sỏi mật, mức độ gan to phụ thuộc vào mức độ tắc mật, sỏi túi mật không gây gan to. Tắc mật do sỏi trong ống mật chủ có thể xuất hiện túi mật to.
  • Một số bệnh nhân bị sỏi mật có những triệu chứng như không thích ăn mỡ, hay ợ chua, ợ hơi hoặc đầy bụng. Những triệu chứng không rõ ràng này là những triệu chứng có liên quan tới sỏi. Trong những trường hợp này, điều quan trọng là phải loại trừ những bệnh khác cũng có triệu chứng tương tự.
  • Để chẩn đoán đúng bệnh: Dựa vào triệu chứng điển hình kinh điển đó là: đau, sốt và vàng da. Xét nghiệm có thể thấy tăng bạch cầu trong máu, bilirubin máu tăng khi có tắc mật. Siêu âm, chụp cắt lớp vi tính và chụp cộng hưởng từ rất có giá trị giúp chẩn đoán sỏi mật. Đối với sỏi túi mật, siêu âm là phương pháp rẻ tiền mà có giá trị cao trong chẩn đoán.

Biến chứng của bệnh sỏi mật

Mặc dù cơn đau quặn mật là triệu chứng thường gặp, nhưng những biến chứng nghiêm trọng khác có thể xảy ra. Viêm túi mật cấp là biến chứng xảy ra do viêm nhiễm túi mật bởi sự tắc nghẽn kéo dài ở ống túi mật do sỏi. Triệu chứng điển hình bao gồm sốt và đau vùng bụng trên bên phải kéo dài, tăng lên khi sờ, thở sâu và ho.Số lượng bạch cầu gia tăng nói lên sự hiện diện của viêm hoặc nhiễm trùng túi mật. Hiếm khi, viêm gây thủng hoặc vỡ túi mật.
Khi túi mật thủng sẽ lan tràn vào những cơ quan kế cận như là ruột non, sỏi mật có thể đi qua chỗ thủng để vào ruột non.

  • Nếu viên sỏi lớn, nó có thể gây tắc ruột gọi là tắc ruột do sỏi.
  • Sự tắc ruột làm ngăn cản chức năng bình thường của ruột.
  • Sỏi mật cũng có thể di chuyển từ túi mật vào trong đường mật.
  • Đường mật là một ống dẫn mật từ gan và túi mật vào ruột non.
  • Bệnh nhân bị sỏi trong đường mật có thể không có triệu chứng.
  • Khi sỏi làm tắc nghẽn đường mật lúc đó mới gây ra triệu chứng như: đau bụng dữ dội, vàng da, vàng mắt, nhiễm trùng đường mật, và có thể viêm tụy cấp. Cùng với đau bụng và vàng da, nhiễm trùng đường mật có thể gây ra sốt cao lạnh run, đôi khi nhiễm trùng huyết làm đe dọa tính mạng bệnh nhân. Viêm tụy có nghĩa là tình trạng viêm của tuyến tụy, đây là bệnh nội khoa nặng.

Điều trị sỏi mật như thế nào?

  • Điều trị hỗ trợ bằng giảm đau và kháng sinh, nhưng chủ yếu vẫn phải lấy sỏi mật.
  • Đối với sỏi túi mật:Dùng thuốc giúp tan sỏi, áp dụng đối với sỏi cholesterol dưới 1,5cm, tốt nhất với sỏi dưới 5mm, thời gian dùng kéo dài 6-24 tháng, ursodeoxycholic acid 8-10mg/kg trọng lượng.Tán sỏi bằng sóng, làm tan sỏi trực tiếp bằng hóa chất.
  • Cắt túi mật qua nội soi: dùng với sỏi to, gây đau nhiều hoặc gây viêm túi mật, đây là phương pháp hiện nay thường dùng phổ biến, rút ngắn thời gian nằm viện và hồi phục sức khỏe nhanh.
  • Cắt túi mật bằng mổ phanh: áp dụng trong trường hợp mổ nội soi thất bại hoặc viêm mủ túi mật.
  • Đối với sỏi trong gan và ống mật chủ: Lấy sỏi qua nội soi ngược dòng cắt cơ oddi, áp dụng với sỏi ở ống mật chủ, sỏi nhỏ dưới 1,5cm, phương pháp này giúp tránh được phẫu thuật. Tán sỏi ngoài cơ thể bằng sóng, áp dụng với sỏi to. Phẫu thuật để lấy sỏi.

Làm cách nào để phòng bệnh sỏi mật và biến chứng?

Đối với nước ta, nhiễm khuẩn đường mật vẫn còn là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến hình thành sỏi mật, đặc biệt là nhiễm ký sinh trùng đường mật. Chính vì vậy cần ăn uống vệ sinh như ăn uống thức ăn đã nấu chín, tẩy giun định kỳ 6 tháng/lần, rửa tay trước khi ăn và sau khi đi vệ sinh, không nên ăn thức ăn đường phố, trẻ em hạn chế ăn quà vặt cổng trường. Đối với người có tiền sử giun chui ống mật cần tẩy giun định kỳ 2 lần trong một năm.

Đối với người đã có sỏi mật cần được theo dõi và điều trị kịp thời để tránh những biến chứng nguy hiểm do sỏi mật gây ra.

Chế độ ăn cho người bị sỏi mật: Người bị sỏi mật nên hạn chế ăn mỡ vì chất này ảnh hưởng đến chức năng gan, mật và dạ dày. Khi ăn nhiều mỡ, mật xuống ruột không đều, kích thích túi mật co bóp quá mạnh, một phần mật tham gia cùng cholesterol tạo sỏi.

Bệnh sỏi mật gặp nhiều ở nữ hơn nam và có xu hướng tăng dần theo tuổi. Nguyên nhân gây ra sỏi mật là bệnh viêm túi mật mãn tính, ứ đọng mật và nhiễm trùng túi mật. Hiện tượng táo bón cũng tạo ra cơ hội cho vi trùng đường ruột phát triển, dẫn đến viêm tá tràng, túi mật và ống mật, do đó nó làm cho mật dễ lắng xuống thành sỏi.

Sỏi mật có 2 loại:

  • Sỏi sắc tố mật: Loại này ít gặp.
  • Sỏi cholesterol: Thường đi đôi với tình trạng cholesterol cao trong máu. Cholesterol dễ gây sỏi nếu nó có các chất béo khác kèm theo, thường gắn liền với tình trạng béo phì. Theo nghiên cứu của Đại học Kentucky (Mỹ), béo phì là một yếu tố nguy cơ quan trọng gây bệnh sỏi túi mật. Theo dõi trong 15 năm cho thấy, 3.200 trong tổng số 42.000 phụ nữ béo phải mổ sỏi mật. Người có vòng eo hơn 91,5 cm nguy cơ mổ lấy sỏi mật cao gấp đôi người có vòng eo dưới 66 cm.

Ở Việt Nam, theo nghiên cứu của Bệnh viện Việt Đức, gần 42% bệnh nhân sỏi mật có béo phì.

Bị sỏi mật thì ăn uống thế nào?

  • Giảm mỡ: Cần hạn chế các thực phẩm cholesterol như phủ tạng động vật, trứng…
  • Tăng đạm để tăng tạo tế bào gan đã bị tổn thương, chống thoái hóa mỡ tế bào gan.
  • Giàu đường bột: Thức ăn này dễ tiêu, lại không ảnh hưởng đến mật. Nhiều chất xơ lại giúp tiêu hóa tốt tránh táo bón.
  • Giàu vitamin C và nhóm B (để tăng chuyển hóa chất mỡ và đường bột). Dùng rau và hoa quả tươi rất tốt.
  • Tỷ lệ giữa các chất dinh dưỡng đạm, mỡ, đường ở người trưởng thành bình thường là 1/0,75/5 còn ở người bị sỏi mật nên là 1/0,5/5.
  • Thức ăn không nên dùng: Trà, cà phê, cacao, chocolate; thịt cá nhiều mỡ, dầu cọ, dầu dừa, phủ tạng động vật. Hạn chế ăn lòng đỏ trứng.
  • Thức ăn nên dùng: Nước quả, hoa quả tươi các loại, rau tươi, bánh kẹo ít trứng bơ,các loại thịt cá nạc như nạc thăn lợn, thịt bò, cá quả, cá chép, các loại đậu đỗ như đậu tương, đậu xanh, đậu đen. Ngoài ra có một số thức ăn lợi mật như nghệ, lá chanh, có thể dùng được.Để kích thích túi mật co bóp nhẹ nhàng, có thể dùng một ít chất béo dễ tiêu như bơ rồi đến dầu thảo mộc sống, mỡ gà vịt.

Người bị sỏi mật, kiêng ăn gì?

  1. Những người bị viêm túi mật và sỏi mật thường có triệu chứng: Cảm giác tức, nặng, ấn đau ở hạ sườn phải hoặc những cơn quặn đau lan lên vai, kéo dài vài giờ đến vài ngày, vàng da, đôi khi phát sốt, đại tiện táo bón, tiểu tiện vàng, chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng dày.
  2. Dùng dầu thực vật, ăn ít chất béo ngọt ,thường sau khi ăn thức ăn nhiều chất béo, đột nhiên thấy đau nhiều ở bụng bên phải, đau lan về phía vai phải, đau rất dữ dội làm bệnh nhân vật vã, toát mồ hôi, kèm theo lợm giọng, nôn mửa, sốt cao, rét
  3. Nhu cầu dinh dưỡng của bệnh nhân viêm túi mật là phải đầy đủ các chất đạm, đường bảo đảm đủ lượng calo cần thiết và một lượng lớn thức uống; mỗi ngày uống ít nhất 2 lít nước, để làm loãng nước mật.
  4. Bất luận là viêm túi mật hay sỏi mật, hoặc cả hai cùng xuất hiện một lúc, mỗi khi thu nạp chất béo đều dẫn đến việc co rút để phân tiết chất trong túi mật khiến người bệnh đau đớn, phần bụng căng trướng. Tuy có lúc phát lúc không nhưng nếu chữa trị không triệt để, bệnh có thể trở thành mãn tính. Vì vậy, lúc bình thường cần chú ý ăn uống với chế độ dinh dưỡng hợp lý, có thể khống chế được nhân tố gây bệnh.
  5. Ăn uống chủ yếu nên thanh đạm, ăn ít chất béo ngọt, nấu nướng hoàn toàn dùng dầu thực vật. Các loại rau cải nên dùng dưới dạng luộc, hấp, nấu canh, hầm cho mềm để dễ tiêu hóa. Ăn lượng ít nhưng nhiều bữa, không ăn quá no, để làm giảm nhẹ gánh nặng cho túi mật, hạn chế chứng viêm và sỏi túi mật phát triển.
  6. Những thực phẩm nên ăn là gạo, bột mì và các chế phẩm của gạo; dùng một lượng ít dầu thực vật và ít bơ, dùng thịt nạc của các loại gia súc; nên ăn nhiều củ cải, cải xanh, các loại đậu, đậu nành, các loại trái cây không cứng quá, dùng lượng đường vừa phải,sữa không có chất béo, nước ép trái cây, canh thịt nạc, nước trà, dùng ít muối ăn
  7. Những thực phẩm kiêng kỵ, cơ chế tạo ra sỏi ở mật có liên quan đến hàm lượng cholesterol trong cơ thể quá cao,do đó cần hạn chế các thức ăn có chứa cholesterol như lòng đỏ trứng, trứng cá, tủy não, gan, thịt mỡ… Hạn chế chất béo, mỗi ngày chỉ dùng giới hạn từ 20 – 40 g; giảm lượng cholesterol, mỗi ngày dùng dưới 300 mg.
  8. Mỗi khi bệnh phát tác cấp tính, nên tạm thời kiêng ăn 1 – 2 ngày hoặc chỉ dùng thức ăn nhẹ, dễ tiêu hóa như cháo loãng, cháo thịt nạc heo, thịt bò băm nhỏ, xúp rau củ…
  9. Sau khi bệnh giảm bớt cũng chỉ ăn những thực phẩm được nấu loãng nhừ, rồi dần dần dùng đến các thực phẩm hầm nhừ, ít dầu mỡ.
  10. Các loại rượu và thực phẩm có chất kích thích, các loại gia vị cay, nóng, nồng mạnh đều có thể sinh ra các chất làm tăng co bóp của túi mật khiến các cơ ở cổ túi mật không kịp dãn cho nước mật chảy ra, có thể dẫn đến kết sỏi mật và viêm túi mật cấp tính.

Mổ sỏi mật khi nào?

  • Các bác sỹ lưu ý bệnh nhân sỏi mật như sau: nguyên nhân của sỏi mật là do rối loạn chuyển hóa của dịch mật. Nếu chỉ lấy sỏi ra, rối loạn chuyển hóa vẫn còn và tiếp tục phát sinh sỏi. Cắt túi mật sẽ ngăn sỏi tái phát và bệnh nhân vẫn khỏe mạnh, sống thọ như người bình thường. Sỏi to hay sỏi nhỏ, nhiều sỏi hay ít sỏi cũng không quan trọng khi sỏi chưa gây triệu chứng.

  • Thực tế có những bệnh nhân chỉ bị một viên sỏi nhỏ đã phải mổ vì viên sỏi này gây tắc dịch mật khiến bệnh nhân đau đớn không chịu nổi. Về việc mổ sỏi mật khi nào,các bác sỹ cho biết về nguyên tắc bất cứ lúc nào cũng có thể mổ lấy sỏi. Tuy nhiên,khi sỏi chưa gây triệu chứng chỉ cần theo dõi định kỳ theo hẹn của BS. Khi có triệu chứng, biến chứng (viêm tụy cấp…) mới cần mổ.

  • Bệnh nhân bị sỏi mật đa số được điều trị bằng phẫu thuật nội soi. Nếu bệnh nhân chỉ bị sỏi túi mật, khi cắt túi mật bệnh không tái phát. Với bệnh nhân bị sỏi đường mật việc điều trị sẽ khó khăn hơn. Nếu đường mật nằm trong nhu mô gan sâu có quá nhiều sỏi, có khi BS bắt buộc phải cắt bỏ một phần gan để loại trừ sỏi.Có khi BS không thể lấy hết sỏi đường mật cho bệnh nhân do sỏi nằm ở vị trí không thể lấy được. Khi đó BN phải chấp nhận “sống chung” với sỏi và về lâu ngày sỏi có thể khiến bệnh nhân bị xơ gan. Chưa kể bệnh nhân bị sỏi đường mật sau mổ rồi vẫn bị tái phát sỏi, có người phải mổ đi mổ lại 7-8 lần.

Bài thuốc chữa sỏi mật

  • Bệnh sỏi mật có thể gặp ở mọi lứa tuổi, nhưng phần lớn ở tuổi 20-50, càng nhiều tuổi càng dễ bị sỏi mật. Bệnh gặp ở phụ nữ cao hơn gấp 4-6 lần so với nam giới.
  • Sỏi mật y học cổ truyền gọi là chứng thạch đởm. Đông y cho rằng, thạch đởm là do can uất khí trệ, ăn uống không điều độ hoặc do ngoại cảm thấp nhiệt mà thành bệnh.
  • Xin giới thiệu bài thuốc trị sỏi mật: quả sung khô 50g, nhân trần 10g, hoa actisô 10g, lá vọng cách 10g, diệp hạ châu 8g, râu ngô 8g, kê nội kim (màng mề gà) 10g, nghệ vàng 12g, bạch truật 12g, đảng sâm 20g, thổ phục linh 10g, cam thảo 8g. Sắc với 5 bát nước, thêm vào 5 lát gừng tươi, đun còn 2 bát, chắt ra. Đun thêm 2 lần, mỗi lần lấy 1 bát. Trộn chung cả 3 lần, cô lại còn 2 bát, chia đều uống trong ngày. Uống liên tục 25 – 30 thang, sau đó kiểm tra lại sỏi mật bằng siêu âm. Nếu đã hết sỏi, nghỉ một tháng lại uống thêm 5 thang để củng cố kết quả.